pvfcdalat--
http://www.pvfcdalat.com/vi-vn/N1-san-xuat-rau-an-toan-–-huong-di-moi-tren-nhung-canh-dong-viet-3366.html?lang=vi-vn&keytemp=san-xuat-rau-an-toan-–-huong-di-moi-tren-nhung-canh-dong-viet&id=3366--
-Sản xuất rau an toàn – hướng đi mới trên những cánh đồng Việt-PVFC Đà Lạt
Đăng nhập
Tên đăng nhập
Mật khẩu
   Nhớ mật khẩu
Báo cáo doanh số
Từ ngày
Đến ngày
Báo cáo doanh số
.:.Hiển thị.:.
 Thông tin sản phẩm  Mã phiếu  Ngày

Đang thêm vào giỏ hàng...

  • Trang chủ
  • Sản xuất rau an toàn – hướng đi mới trên những cánh đồng Việt
THỐNG KÊ
Sản xuất rau an toàn – hướng đi mới trên những cánh đồng Việt

 

Sản xuất rau an toàn – hướng đi mới trên những cánh đồng Việt

 
 
 
Gia đình anh Nguyễn Văn Dùng có 4 sào cà chua và su hào trong mô hình sản xuất rau an toàn tại hợp tác xã Yên Phú, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
Khi mà người tiêu dùng luôn cảm thấy bất an vì nguồn thực phẩm họ sử dụng mỗi ngày và chủ đề vệ sinh an toàn thực phẩm đã trở thành chủ đề nóng trên hệ thống truyền thông đại chúng thì xuât hiện một mô hình trồng rau an toàn đang góp phần củng cố niềm tin tiêu dùng cho người dân.
Thay đổi từ nhận thức của người sản xuất
Sẽ không phải là một dự án mang tính…. thời vụ, mục tiêu cuối cùng của dự án “nâng cao năng lực quản lý ngành trồng trọt nhằm cải thiện sản lượng và chất lượng sản phẩm cây trồng” là nhằm thay đổi nhận thức của người nông dân trồng rau, hướng tới một nền sản xuất bền vững. Sẽ không còn kiểu người sản xuất trồng rau để ăn ở một khu riêng còn rau để bán ở một khu khác. “Người nông dân sẽ là người hiểu mình đang làm những gì và cần có trách nhiệm như thế nào đối với rau quả mình sản xuất ra” – bà Nguyễn Thị Hằng, cố vấn dự án cho biết. Không phải là một mục tiêu vĩ mô và thiếu tính khả thi, những phản ánh từ chính những người nông dân tham gia trồng rau trong phạm vi dự án đã giúp chúng tôi hiểu rõ hơn tính thực tế của mục tiêu này. Anh Nguyễn Văn Dùng (46 tuổi) – người có 3 sào cà chua và 1 sào su hào tại cánh đồng nằm trong dự án của Hợp tác xã Yên Phú (Yên Mỹ, Hưng Yên) cho biết: Bản thân anh và những hộ tham gia trồng trọt theo mô hình trồng rau an toàn đã học được rất nhiều điều từ các cán bộ và chuyên gia dự án. Các hộ nông dân như gia đình anh được tập huấn về cách trồng, chăm bón rau củ theo đúng quy trình và đúng cách. Trước đây, mọi công việc trên đồng ruộng đều được làm một cách tự phát và dựa trên kinh nghiệm lưu truyền lại, nay tất cả được thực hiện một cách khoa học và bài bản hơn. Do vậy mà năng suất và chất lượng trồng trọt cũng được cải thiện.
Chị Ngô Thị Xuân (phường Hà Phong, thành phố Hạ Long, Quảng Ninh) cũng có chung chia sẻ: “Tôi được tham gia tập huấn nên cũng có những kiến thức cơ bản hơn. Nhờ thế mà có thể giảm đầu tư, tăng thu nhập. Tôi được hướng dẫn cách ủ phân bằng chấu, bằng vỏ sò, vỏ hến, vì thế mà không phải mất nhiều tiền mua phân bón hóa học”. Theo chị Xuân, chị cũng như 24 hộ trong hợp tác xã Hà Tân tham gia dự án đều thu được nhiều lợi ích từ mô hình trồng rau của dự án. Biểu hiện như thế nào của rau thì chị biết là có bệnh, cách điều trị ra sao, dùng thuốc bảo vệ thực vật như thế nào để đảm bảo an toàn về thời gian cách ly,….
Trả lời nghi ngại của chúng tôi về việc, người nông dân có thể sẽ không tuân thủ theo đúng quy trình sản xuất sau khi dự án kết thúc vào tháng 12/2013, bà Nguyễn Thị Hằng cho biết: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng như những người tham gia dự án đều đã ý thức được việc này. Điều mà cán bộ dự án quan tâm là làm thế nào để dự án được thực hiện một cách bền vững, chứ không phải chỉ được thực hiện trong thời gian thí điểm (từ tháng 7/2010 đến hết tháng 12/2013). Bởi vậy, trong quá trình thực hiện, các cán bộ cũng như các chuyên gia đều chú ý tác động vào nhận thức của người nông dân, để họ tự ý thức và tự nguyện thực hiện, chứ không phải thực hiện một cách chiếu lệ, hình thức.
Tuy vậy, bà Hằng khẳng định, để giúp người nông dân thực hiện đúng các bước sản xuất rau an toàn thì cần có sự tham gia thường xuyên của các ban ngành, làm thế nào để những người sản xuất nhỏ cũng được hưởng lợi. Chẳng hạn, các cơ quan, ban ngành hỗ trợ họ về hệ thống kênh mương, tưới tiêu đảm bảo vệ sinh, chất lượng. Có như vậy, họ sẽ có thêm động lực để sản xuất rau an toàn.
Lược bớt những tiêu chuẩn “cồng kềnh” 
Phần ruộng của gia đình anh Dùng, chị Xuân nói trên nằm trong mô hình sản xuất rau an toàn với kinh phí của dự án trị giá hơn 67 tỷ đồng, trong đó Chính phủ Nhật Bản viện trợ hơn 64,5 tỷ đồng thông qua Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA). Người dân tại các hợp tác xã ở 6 tỉnh thành gồm Yên Phú (Yên Mỹ, Hưng Yên), Hạ Vỹ (Lý Nhân, Hà Nam), Hà Tân và Hồng Hải (Hạ Long, Quảng Ninh), Quỳnh Hải (Quỳnh Phụ, Thái Bình) và Dân Chủ (thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình) là những người được thụ hưởng trực tiếp từ dự án.
 
 
 Lần đầu tiên, người nông dân tham gia sản xuất rau an toàn biết đến khái niệm 
"nhật ký đồng ruộng" bằng việc ghi chép lại các bước cụ thể khi canh tác
                                                                            (Ảnh: Kiều Giang)
Mục tiêu của dự án là hướng đến mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn GAP (Good Agriculture Practice – thực hành nông nghiệp tốt). So với VietGap (quy trình thực hành nông nghiệp tốt do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam ban hành), GAP cơ bản dễ áp dụng hơn, phù hợp với đối tượng nông dân sản xuất nhỏ. Với 65 tiêu chí khác nhau, tiêu chuẩn VietGap không phải hộ nông dân nào cũng có thể áp dụng được. Trong khi GAP cơ bản chỉ với 26 tiêu chí được lựa chọn từ các tiêu chí của VietGap, người nông dân vừa dễ thực hiện lại vừa bảo đảm được chất lượng an toàn theo quy định. Đây cũng là cơ sở ban đầu để người nông dân dần tiến tới tiêu chuẩn VietGap
Theo ông Numata Mitsuo – chuyên gia Nhật Bản về sản xuất rau an toàn, mục đích chính của dự án là có càng nhiều nông dân hiểu được về sản xuất nông nghiệp đúng quy trình càng tốt. Sau hơn 3 năm thực hiện, nông dân được hướng dẫn kỹ thuật và quy trình sản xuất một số loại rau chính, cách sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, cách thu hoạch, bảo quản, sơ chế, bảo hộ lao động... Nông dân cũng được hướng dẫn thực hiện GAP cơ bản như lập biểu mẫu ghi chép nhật ký đồng ruộng và lưu trữ hồ sơ sản xuất từ đầu cho tới khi bán sản phẩm. Dự án cũng chỉ cho người sản xuất thấy những vấn đề về sức khỏe của chính họ khi phải hứng chịu từ hóa chất nông nghiệp độc hại. Các phương pháp tiếp cận cũng cần đơn giản, dễ hiểu để người dân có thể thực hành và áp dụng tốt.
Dự án đã hỗ trợ các vật tư đầu vào của sản xuất như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho nông dân, xây dựng khu vực sơ chế.... Nông dân tham gia dự án được tiếp xúc và giao lưu với nhiều tình nguyện viên của JICA trực tiếp sang Việt Nam làm việc.
Hướng đi cho đầu ra 
Rõ ràng, việc sản xuất rau an toàn đối với người nông dân là điều hoàn toàn có thể, một khi họ nhận được sự ủng hộ từ các cơ quan chức năng và bản thân người tiêu dùng. Chị Phan Thị Tần – chủ cửa hàng rau an toàn, hợp tác xã Hồng Hải, thành phố Hạ Long, Quảng Ninh cho biết: Chị đã bán rau an toàn tại cửa hàng này được hơn 1 năm. Giá của mỗi sản phẩm tuy có cao hơn giá các mặt hàng tương tự ở ngoài chợ từ 2-3 nghìn đồng/sản phẩm, nhưng người tiêu dùng thích và thường xuyên ghé qua cửa hàng chị.
 
 
 Việc ghi rõ nguồn gốc, xuất xứ sẽ là một cơ sở để người tiêu dùng tin tưởng và có 
phản hồi về sản phẩm (Ảnh: Kiều Giang)
Tuy nhiên, bản thân chị Tần và các cán bộ tham gia dự án đã vấp phải không ít khó khăn khi các tiểu thương quanh khu chợ thời gian ban đầu liên tục “xì xào” về chất lượng cũng như nguồn gốc của các sản phẩm bán tại cửa hàng rau an toàn của hợp tác xã. Tuy nhiên, việc gì cũng cần có sự khởi đầu. Các hộ tham gia sản xuất cũng như những người tham gia dự án đều coi đó là một thử thách, một động lực để chứng minh những việc mình làm.
Ông Lê Hồng Lĩnh – Chủ nhiệm hợp tác xã Hồng Hải, thành phố Hạ Long đã chia sẻ về những khó khăn của hợp tác xã khi tham gia sản xuất rau an toàn. Đó là việc, để đảm bảo thời gian cách ly thuốc bảo vệ thực vật, rau sản xuất theo quy trình an toàn trông có vẻ “cứng” hơn, không đẹp mắt bằng rau thường. Mà tâm lý của người mua thường hay chọn những sản phẩm tươi non, mỡ màng. Trong khi đó, hợp tác xã lại chưa ký được nhiều hợp đồng để phân phối rau, vì chủng loại chưa đa dạng. Bên cạnh đó, đất trồng tại địa phương lại hạn chế, hợp tác xã cũng khó để trồng nhiều loại rau củ trên cùng một khu đất. Bởi vậy, hướng đi đầu ra cho sản phẩm rau an toàn cũng là một bài toán đối với các hợp tác xã.
Được biết, trong số các tỉnh thành thực hiện thí điểm mô hình sản xuất rau an toàn, mới chỉ có Hạ Long có cửa hàng bán các sản phẩm rau an toàn do hợp tác xã sản xuất. Tại các địa phương khác, các cửa hàng tương tự mới đang trong giai đoạn chuẩn bị. Do vậy, người sản xuất sau khi thu hoạch vẫn phải tự tìm cách để tiêu thụ sản phẩm. Và vì thế, rau an toàn vẫn chưa có một đầu ra ổn định và một chỗ đứng bền vững trên thị trường.
Tại Nhật Bản, việc sản xuất rau an toàn đã được thực hiện rất bài bản và có hệ thống. Ngoài việc đảm bảo đúng quy trình sản xuất, khi phân phối sản phẩm – bao giờ sản phẩm cũng được ghi nguồn gốc, nhãn mác cụ thể. Đây là cơ sở để người tiêu dùng có thể phản hồi về sản phẩm khi cần.
Việt Nam cũng sẽ làm được điều này nếu như mô hình sản xuất rau an toàn không chỉ dừng lại ở phạm vi dự án. Người nông dân trên các cánh đồng Việt cũng sẽ thực hiện tốt điều này nếu như họ được ủng hộ và cổ vũ khi tham gia sản xuất. Một hướng đi mới trong sản xuất rau an toàn, sẽ góp phần không nhỏ giúp củng cố niềm tin cho người tiêu dùng trong bối cảnh có quá nhiều câu hỏi về chất lượng rau củ quả trên thị trường nước ta hiện nay./.
T. Lý (http://www.hoinongdan.org.vn)



LIÊN KÉT